câu chuyện về đinh bộ lĩnh
Thế mà không đâu. Gặp Thập nhị sứ quân đầu rừng cuối quận. Thành ra người dẹp loạn. Rồi làm tướng làm vua. Lắm chuyện nhức đầu. Cho tôi về với cành lau. Vàng vọ. Về với con trâu nghé ngọ. Có cặp sừng bỡ ngỡ.
Câu chuyện về một “chiến binh” Parkinson bản lĩnh. Đã 27 năm kể khi được chẩn đoán bệnh Parkinson (1992) nhưng đến nay ông Chử Trọng Thành (Việt Trì, Phú Thọ) vẫn có thể đi lại nhanh nhẹn, thăm hỏi bạn bè trên mọi miền tổ quốc. Bởi quyết tâm chiến thắng bệnh
Đinh Tiên Hoàng đế Đinh Bộ Lĩnh (968 - 980) Đinh Bộ Lĩnh người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (Hoa Lư, Ninh Bình), con Đinh Công Trứ, một nha tướng của Dương Đình nghệ giữ chức Thứ sử Châu Hoan. Đinh Công Trứ mất sớm, Bộ Lĩnh theo mẹ về quê ở, thường đi chơi với kẻ chăn trâu, bắt chúng khoanh tay làm kiệu
Ơi Vay Lừa Đảo. Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước và lên ngôi hoàng đế vào năm 968, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, chọn Hoa Lư Ninh Bình là đất đóng đô. “Bé thì chăn nghé, chăn trâu Trận bày đã lấy bông lau làm cờ. Lớn lên xây dựng cơ đồ Mười hai sứ tướng bây giờ đều thua…” Cậu bé cờ lau Đinh Bộ Lĩnh Từ cánh đồng ngoài xa, có tiếng kêu của ai đó dội về vách đá, vọng vào căn nhà gỗ ven núi – Thằng Bộ Lĩnh đánh chết người! Bà Đảm ngừng tay đưa thoi, lắng nghe. Bà biết rõ con bà lắm. Thằng Bộ Lĩnh đã nhiều lần làm khổ bà vì cái tính nghịch ngợm và bướng bỉnh của nó. Còn giết người thì từ khi sinh ra, Bộ Lĩnh không ở với bố là Đinh Công Trứ đang làm thứ sử ở Hoan Châu [1] mà ở Hoa Lư với bà đã mười bốn năm nay, bà chẳng biết nó hay sao? Con bà không làm chuyện ấy. Lại có tiếng gọi – Bà Đảm ra mà đền con cho người ta kìa! Nó đánh nhau với con cái nhà ai rồi! Nghĩ vậy, bà Đảm đứng dậy, với tay cầm chiếc roi trên vách. Vừa ra đến đầu động [2] bà đã thấy lũ trẻ chăn trâu kéo nhau về. Một tốp cưỡi trâu đi trước, đứa nào đứa nấy kết lá làm bành, ngồi ngất nghểu trên lưng trâu. Tiếp theo, một tốp khác vác cờ lau đi như rước hội. Bộ Lĩnh đang chễm chệ ngồi trên tay hai đứa trẻ khoanh làm kiệu rước đi giữa, hai bên có mấy đứa cầm cờ lau kiếm gỗ hộ vệ. Bà Đảm bực mình, đi thẳng lại chỗ Bộ Lĩnh. Cây roi trong tay bà vừa vung lên thì Bộ Lĩnh đã tụt vội xuống đất, luồn qua tay bà, rồi chạy lên phía trước. Bộ Lĩnh nhảy tót lên lưng trâu, thúc trâu tế về phía núi. Thì ra lũ trẻ chăn trâu động Hoa Lư cờ lau tập trận. Đánh nhau với một lũ trẻ khác, bị cướp mất trâu, Bộ Lĩnh tức giận đuổi bắt thằng bé đầu đàn, quẳng xuống sông. Khi thằng bé sắp chìm, Bộ Lĩnh lại nhảy xuống vớt lên… Bà Đàm vừa giận con lại vừa lo lắng đến việc dạy con. Lại một hôm, trong lúc cờ lau tập trận, đoàn trẻ chăn trâu Hoa Lư được tin lũ trẻ sách bên đang đi về phía chúng. Lập tức Bộ Lĩnh cho dàn trận, còn mình thì leo lên một mỏm đá đứng chỉ huy, tay cầm bông lau làm cờ hiệu, thanh kiếm gỗ đeo bên sườn. Một trận chiến đấu ác liệt sẽ xảy ra. Không phải thế. Chúng đến để xin nhập bọn. Muốn nhập bọn với Bộ Lĩnh nhưng lại không chịu nhận Bộ Lĩnh làm chủ tướng, nhao nhao đòi tài vật xem ai khỏe hơn ai mới được làm chủ tướng. Tuy nhỉ bé hơn thằng đầu đàn của lũ trẻ con sách bên, nhưng Bộ Lĩnh không do dự, nhận lời đọ sức. Hai đứa cởi áo xông vào vật nhau. Bộ Lĩnh dùng tài nhanh nhẹn của mình làm cho thằng kia ngã sấp xuống rồi chồm lên lưng hắn ngồi như cưỡi trâu. Thằng kia cố sức vùng dậy. Bộ Lĩnh thúc chân vào sườn hắn mà thét – Mau lên! Cõng chủ tướng về hang núi khao quân! Lũ trẻ reo cười nhìn thằng lớn cõng thằng bé. Có tiếng xì xào “Thằng Bộ Lĩnh khôn quá, đáng mặt làm chủ tướng”. Thế là đoàn quân trẻ nhỏ lũ lượt diễu binh. Bộ Lĩnh ngồi trên kiệu đi giữa, có tả hữu hộ vệ. Rừng cờ lau di động men theo sườn núi, tiến về hang đá. Đến nơi, Bộ Lĩnh để lũ trẻ đứng đợi, còn mình thì dẫn mười đứa về nhà. Nhà Bộ Lĩnh ở cạnh đền Sơn Thần, cách động núi chừng nửa dặm. Hôm đó bà Đàm đi vắng, chỉ còn mấy gia đồng ở nhà. Con lợn hai người khiêng đang ở trong chuồng và mấy thùng gạo nếp được lũ trẻ mang đi theo lệnh của Bộ Lĩnh. Trong hang núi, tiếng lợn kêu van, khói bốc nghi ngút. Mùi thịt nướng ngầy ngậy, mùi xôi nếp thơm thơm bốc lên quyến rũ. Lũ trẻ háu đói quây quần bên bếp lửa reo hò… Tuổi niên thiếu của Bộ Lĩnh trôi qua với những ngày sôi nổi tập trận khao quân rồi lại tập trận khao quân. Cứ như thế, Bộ Lĩnh cùng lũ trẻ chăn trâu gắn bó với nhau như cá với nước. Bà Đàm lo lắng vì Bộ Lĩnh quá nghịch ngợm nhưng bà cũng mừng thầm có đứa con hơn người. Các cụ bô lão truyền cho nhau “Đứa bé này khí độ như thế tất sẽ làm nên việc lớn, bọn chúng ta nếu không về theo, ngày sau hối không kịp” [3]. Còn trẻ chăn trâu quanh vùng ngày càng mến phục và rủ nhau tìm về với Bộ Lĩnh. Đinh Bộ Lĩnh gây dựng thanh thế Mọi người đang xôn xao vì chuyện cờ lau tập trận của cậu bé họ Đinh thì hàng loạt sự kiện lớn lao rung chuyển núi sông liên tiếp truyền đến Hoa Lư. Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ để đoạt chức Tiết độ sứ [4]. Rồi Ngô Quyền, thứ sử Ái Châu kéo quân ra hỏi tội kẻ phản trắc. Công Tiễn rước quân Nam Hán về chống lại Ngô Quyền. Cũng năm ấy, Ngô Quyền giết Công Tiễn và bố trận thủy chiến ở sông Bạch Đằng để chống giặc [5]. Đội chiến thuyền của giặc Nam Hán cùng với viên tướng Hoằng Tháo bị chôn vùi dưới sông nước. Sông Bạch Đằng đỏ ngầu máu giặc. Đất nước thanh bình, Ngô Quyền lên ngôi vua và đóng đô ở Cổ Loa [6]. Năm ấy cậu bé họ Đinh vừa tròn mười sáu tuổi [7]. Những năm tháng thanh bình chưa được bao lâu lại có tin sét đánh Ngô Vương Quyền mất ở Cổ Loa [8], Dương Tam Kha tiếm ngôi vua, tự xưng là Bình Vương. Ngô Xương Ngập con trai của Ngô Quyền phải trốn tránh. Thổ hào các nơi nổi lên chiếm giữ mỗi người một vùng nhằm thôn tính lẫn nhau. Thấy cảnh đất nước bị chia xé, nghĩ mình không thể ngồi yên được. Bộ Lĩnh liền họp bạn bè lại mà nói rằng – Chúng ta không tập trận giả như trước nữa phải đánh trận thật. Trai thời loạn không thể khoanh tay ngồi một xó mà nhìn. Đất nước đang cần đến chúng ta. Ai nấy đều cho lời nói của Bộ Lĩnh là phải, liền chia nhau đi tập hợp các bạn bè, rủ nhau theo về với Bộ Lĩnh để cùng lo việc nước. Bộ Lĩnh mổ bò khao quân và kéo về đóng ở sách Đào Úc [9]. Cả châu Đại Hoàng [10] đã thuộc quyền kiểm soát của Bộ Lĩnh, chỉ còn sách Bông do Đinh Dự chiếm giữ. Bộ Lĩnh đem quân đến thuyết phục, Đinh Dự ở sách Bông nghe tin quân Hoa Lư kéo đến, liền quát – Thằng Bộ Lĩnh này láo thật, nó dám đánh lại cả chú nó! Rồi tung quân ra đuổi đánh. Thấy vậy, Bộ Lĩnh ngửa mặt lên trời than “Trời ơi! Ta đâu muốn có chuyện nồi da nấu thịt này!”. Bộ Lĩnh thu quân chạy. Đinh Dự đuổi đến Đàm Gia, thấy cầu gãy, rút quân về. Qua nhiều đêm suy nghĩ, Bộ Lĩnh quyết tâm thu phục sách Bông bằng được. Bộ Lĩnh tập hợp dư chúng, thu thập thêm quân sĩ, lại dẫn đại quân đến sách Bông. Tới nơi, Bộ Lĩnh cho người mời Đinh Dự ra nói chuyện. Thấy quân của Bộ Lĩnh đông, Đinh Dự không dám tung quân đánh đuổi mà chỉ ra lệnh đóng chặt cổng, leo lên thành quan sát. Thấy chú, Bộ Lĩnh gọi – Chú ơi! Cháu không chống lại chú, sao chú đuổi đánh cháu. Hiện nay đất nước loạn lạc, cả châu Đại Hoàng đều ở trong tay cháu, chỉ còn sách Bông của chú đứng một mình thôi. Nếu mai đây có kẻ khác đến đánh phá, chú cháu ta mỗi người một phương, làm sao mà chống giữ nổi. Cháu muốn hội quân với chú để cùng lo việc lớn. Đinh Dự cảm động. Mối tình máu mủ ruột thịt sống lại trong lòng ông già. Đinh Dự sai mở cổng đón Bộ Lĩnh vào và giao sách Bông lại cho cháu. Thu phục được sách Bông, thế lực của Bộ Lĩnh càng lớn mạnh. Nhưng chí lớn của Bộ Lĩnh không dừng lại ở một châu nhỏ hẹp. Từ Hoa Lư, Bộ Lĩnh vẫn hàng ngày theo dõi tình hình loạn lạc đang diễn ra ở khắp nơi trên đất nước rộng lớn. Những tiếng kêu than rên siết vì cảnh nồi da nấu thịt, những biến động lục đục ở triều đình Cổ Loa hàng ngày vẫn đến tai Bộ Lĩnh. Năm ấy, ở Cổ Loa, Dương Tam Kha sau khi tiếm ngôi được sáu năm, sai Xương Văn cùng hai quan sứ là Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc đi dánh dẹp hai thôn ở Thái Bình [11]. Đến Thanh Liêm, Xương Văn bàn với tướng sĩ dẫn quân về đánh úp Tam Kha, bắt được giáng làm Tương Dương công. Xương Văn giành lại ngôi vua, xưng là Nam Tấn Vương và đón Xương Ngập về cùng trông coi việc nước. Thấy thế lực của Bộ Lĩnh ngày càng một mạnh, triều đình Cổ Loa muốn đánh dẹp để trừ hậu họa. Được tin, Bộ Lĩnh cho con trai là Đinh Liễn đến Cổ Loa để làm kế hòa hoãn. Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương Xương Ngập bắt giữ Đinh Liễn rồi cất quân đánh Bộ Lĩnh [12]. Bộ Lĩnh đóng chặt cửa động, chống cự đến cùng. Đánh nhau với Bộ Lĩnh hơn một tháng trời không hạ được, Nam Tấn Vương bèn treo Đinh Liễn lên ngọn cây dọa Nếu Bộ Lĩnh không hàng sẽ giết chết Đinh Liễn. Bộ Lĩnh thấy vậy giận dữ quát “Bậc đại trượng phu lẽ nào vì con trẻ mà bỏ việc lớn” [13], rồi sai hơn mười tay nỏ cùng nhằm vào Đinh Liễn chực bắn. Trước quyết tâm của Bộ Lĩnh, Nam Tấn Vương hoảng sợ không dám giết Đinh Liễn mà rút quân về. Bộ Lĩnh cười nói với chư tướng – À, ra Bộ Lĩnh này không sợ mất con mà lũ kia lại sợ mất đầu! Sau đó Đinh Liễn được thả về Hoa Lư. Đánh lui được quân của triều đình Cổ Loa, uy danh của Bộ Lĩnh càng thêm lừng lẫy. Nhân dân kéo về theo Bộ Lĩnh ngày càng đông. Quân dân châu Đại Hoàng càng vui mừng phấn khởi, còn riêng Bộ Lĩnh vẫn chưa vui. Đã nhiều đêm không ngủ, Bộ Lĩnh xách gươm đi tuần trong doanh trại. Nhìn núi non hùng vĩ tắm ánh trăng, nghe tiếng cuốc kêu ra rả trong khe núi, Bộ Lĩnh càng sốt ruột vì việc lớn chưa thành. Bộ Lĩnh cho gọi chư tướng đến cùng uống rượu thưởng trăng. Thấy chủ tướng không được vui, có người hỏi, Bộ Lĩnh nói với mọi người – Non sông bị chia xé, nhân dân điêu đứng tan tác, cảnh nồi da nấu thịt đang diễn ra, ta e rồi đây chỉ làm mồi cho giặc. Trước tình cảnh ấy, các người bảo ta vui làm sao được. Nhiều người bàn nên ra quân. Bộ Lĩnh lại nói – Con chim bằng bay xa vạn dặm là nhờ có bộ cánh khỏe. Ta có các ngươi như chim có bộ cánh. Nhưng chim thì bay trên trời còn ta lại vác gươm đi dưới đất. Ra quân, nhưng thế chưa vững, lực chưa mạnh, thì sao cho vẹn toàn. Bộ Lĩnh quyết định đến cửa Bố [14] nương nhờ Trần Lãm. Hiện Trần Lãm đang chiếm giữ một vùng rộng lớn ở Bố Hải Khẩu, xưng là Trần Minh Công. Tuy có thế lực mạnh nhưng Trần Lãm đã già yếu, lại không có con, nên ông ta cũng chỉ muốn được yên thân. Chi bằng đến nương tựa và tìm cách thuyết phục. Mọi người cho kế đó là phải. Bộ Lĩnh tìm đến gặp Trần Lãm. Trong một cuộc hội kiến, Trần Lãm hỏi Bộ Lĩnh – Đinh tướng quân định đến mượn người mượn đất của ta chăng? Bộ Lĩnh đáp – Thưa sứ quân, đất đai, quân dân ở châu Đại Hoàng hay cửa Bố đều là của chung thiên hạ, phải đâu riêng của ngài hay của tôi, mà dám nói chuyện vay mượn? Trần Lãm trừng mắt ngạc nhiên – Là của chung? – Vâng, là của chung. Vì vậy tôi đến đây mong được ngài sai bảo để cùng lo việc chung… Trần Lãm đắc ý cười – Tiếng đồn về người con trai của thứ sử Hoan Châu quả không ngoa. Trần Lãm nhận Bộ Lĩnh làm con nuôi. Thấy mình đã già yếu không lo được việc lớn nữa, ít lâu sau Trần Lãm giao cả binh quyền lại cho Bộ Lĩnh. Một dải đất rộng lớn từ châu Đại Hoàng đến Bố Hải Khẩu đều thuộc quyền điều khiển của Bộ Lĩnh. Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân Sau khi mở rộng được địa bàn hoạt động, Bộ Lĩnh lo thu phục nhân tài, rèn luyện quân sĩ, tích lương, chờ thời cơ ra quân để thống nhất đất nước. Thời cơ đã đến. Quân do thám cho hay triều đình Cổ Loa sụp đổ. Từ khi Thiên Sách Vương Xương Ngập mất [15], Nam Tấn Vương Xương Văn lên cầm quyền phải xin mệnh lệnh của chúa Nam Hán. Nam Hán phong cho Xương Văn chức Tĩnh hải quan tiết độ sứ. Thực quyền của triều đình nhà Ngô lúc này không vượt quá một dải đất hẹp. Cách Cổ Loa chưa đầy vài mươi dặm, đã có nhiều người nổi dậy cát cứ xưng hùng. Nam Tấn Vương có ý muốn đánh dẹp các nơi nhưng bất lực. Đến nay trong khi đi đánh hai thôn ở Thái Bình, Xương Văn bị tên nỏ mai phục bắn chết [16]. Thấy vậy, nha tướng cũ của Xương Văn là Lữ Xử Bình và thứ sử Phong Châu Kiều Tri Hựu tranh chấp nhau làm vua. Ngô Xương Xi con Xương Ngập chạy vào Ái Châu giữ đất Bình Kiều [17]. Đỗ Cảnh Thạc, nha tướng cũ của Ngô Quyền, từ lâu đã rút về chiếm vùng Đỗ Động [18], đào hào xây thành tính kế lâu dài. Trước tình thế đó, Bộ Lĩnh đập bàn quát – Phường chó chết! Không sớm quét sạch bọn phá nước hại dân này thì non sông có phen lại rơi vào tay giặc ngoại xâm mất! Bộ Lĩnh triệu tập bộ tướng họp bàn việc lớn. Xung quanh bàn rượu, chư tướng tính kế ra quân. Đếm trên đầu ngón tay, hiện nay ngoài Cổ Loa còn có mười một sứ quân cần phải thu phục Kiều Công Hãn giữ Phong Châu [19], Kiêu Thuận giữ Hồi Hồ [20], Nguyễn Khoan giữ Nguyễn Gia Loan [21], Nguyễn Thủ Tiệp giữ Tiên Du [22], Nguyễn Siêu giữ Phù Liệt [23], Lý Khuê giữ Siêu Loại [24], Lữ Đường giữ Tế Giang [25], Phạm Bạch Hổ giữ Đằng Châu [26], Ngô Nhật Khánh giữ Đường Lâm [27], Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều và Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động. Trong tình thế ấy ra quân sao cho toàn thắng? Bộ Lĩnh quyết định trước khi đánh dẹp các sứ quân ấy hãy đánh vào Cổ Loa. Cổ Loa là đất trọng yếu, hiện nay đang rối loạn và hầu như vô chủ. Bình được trung tâm Cổ Loa lòng người các châu quận sẽ hướng về theo, các sứ quân tất có kẻ xin hàng giặc ngoài cũng không còn cơ hội để nhòm ngó nước ta nước. Chư tướng cho là phải. Bộ Lĩnh cử Đinh Liễn cùng Lê Hoàn, Nguyễn Bặc, Đinh Điền đi đánh Cổ Loa. Quân của Đinh Liễn tiến vào Cổ Loa như vào chỗ không người. Lữ Xử Bình và Kiều Tri Hựu bất tài, chưa đánh đã tan. Chỉ có Cảnh Thạc là đáng kể, thì đã rút quân về Đỗ Động. Nghe tin đại quân của Bộ Lĩnh kéo đến, nhân dân Cổ Loa vui mừng đem thịt ra đón rước. Đinh Liễn, Lê Hoàn, Đinh Điền và Nguyễn Bặc chiếm Cổ Loa, phủ dụ dân chúng và chia nhau điều khiển công việc. Sau khi chiếm được Cổ Loa, Đinh Liễn sai Lê Hoàn đi chinh phục các sứ quân quanh vùng. Lý Khuê ở Siêu Loại, Lữ Đường ở Tế Giang, Nguyễn Siêu ở Phù Liệt xin hàng. Được tin triều đình Cổ Loa lục đục, Giao Châu loạn lạc, chúa Nam Hán là Lưu Xưởng vì đang lo đối phó với nhà Bắc Tống nên không tính chuyện xâm lược nước ta được. Nhưng nghe tin Đinh Liễn đã dẹp yên Cổ Loa, Lưu Xưởng bèn sai sứ sang phong cho Đinh Liễn làm Giao Châu tiết độ sứ để ràng buộc [28]. Biết chuyện, Bộ Lĩnh đem quân đến Cổ Loa gặp Đinh Liễn hỏi – Ta nghe nói sứ Nam Hán sang, hắn đến có việc gì? – Thưa cha, chúa Nam Hán phong cho con làm Giao Châu tiêt độ sứ. Đinh Liễn đưa tờ chiếu của Lưu Xưởng cho cha. Bộ Lĩnh xé nát ra làm nhiều mảnh, nói với Đinh Liễn – Có phải đất đai của chúng đâu mà chúng có quyền phong cấp. Giá ăn cướp được nước ta chúng cũng chẳng tha đâu! Bộ Lĩnh đòi giết chết sứ Nam Hán, nhưng sứ đã về nước. Đinh Liễn, người con trai ngoài hai mươi tuổi, đang say sưa với chiến công đầu, bừng tỉnh trước cơn thịnh nộ của bố. Bộ Lĩnh dặn dò và giao công việc ở Cổ Loa cho Đinh Liễn, Nguyễn Bặc rồi cùng Lê Hoàn rút về Cửa Bố. Quả nhiên bình được Cổ Loa thế lực của Bộ Lĩnh ngày càng lớn mạnh. Ngô Nhật Khánh ở Giao Thủy, Phạm Phòng Át ở Đằng Châu cũng lần lượt đến xin hàng. Trong lúc đó lại có tin Kiều Công Hãn ở Phong Châu và Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động đang rục rịch chiếm lại Cổ Loa. Bộ Lĩnh quyết định phải gấp rút ra quân đánh dẹp. Bộ Lĩnh cho quân do thám bám sát tình hình Đỗ Động và chia quân đánh Châu Phong và Châu Ái trước. Ngô Xương Xí ở Bình Kiều chưa đánh đã tan, chỉ có Kiều Công Hãn ở Phong Châu đóng cửa thành chống cự. Bộ Lĩnh hạ lệnh cho Lưu Cơ vây thành. Đã hai ngày Công Hãn không chịu hàng. Bộ Lĩnh cho quân lính chuẩn bị mồi rơm. Đến ngày thứ ba Công Hãn vẫn chưa chịu hàng. Bộ Lĩnh ra lệnh đốt thành. Nhưng rồi Lưu Cơ lại được lệnh khoan hãy đốt thành, chỉ tập trung quân phá cổng thành, bắt sống Công Hãn không được chém giết bừa bãi. Thành bị phá, Kiều Công Hãn bỏ thành theo cổng sau chạy ra bến Bạch Hạc, xuôi thuyền về Giao Thủy. Sau hàng loạt chiến công, tinh thần quân sĩ thêm phấn chấn. Binh lực của Bộ Lĩnh mạnh như vũ bão, đánh đâu được đấy. Chỉ còn Cảnh Thạc ở Đỗ Động chưa chịu hàng phục. Bộ Lĩnh bàn kế ra quân đánh Cảnh Thạc. Trong lúc sĩ khí đang lên thì Trần Lãm hấp hối trên giường bệnh. Biết mình không thể sống được nữa Trần Lãm cho gọi Bộ Lĩnh vào mà nói – Tướng quân đến với ta… nay toàn cõi Nam bang đã về tay tướng quân gần hết… Tướng quân xứng đáng là người đảm đang việc lớn của thiên hạ… Trần Lãm qua đời [29]. Chôn cất Trần Lãm xong. Bộ Lĩnh bàn chuyện ra quân. Trong cuộc họp các tướng lĩnh, mọi người tôn Bộ Lĩnh lên làm Vạn Thắng Vương và bàn dời đại bản doanh về Hoa Lư rồi hãy ra quân. Một tháng sau, từ Hoa Lư đại quân của Bộ Lĩnh chia làm bốn cánh kéo cờ Vạn Thắng Vương lên đường đi đánh dẹp Cảnh Thạc. Cảnh Thạc, nha tướng cũ của Ngô Quyền, là người có nhiều mưu trí, đã từ lâu chiếm giữ một vùng rộng lớn, đắp thành ở trang Liệp Hạ [30] để trấn giữ mặt tây, mặt đông có thành Bảo Đà [31]. Ngày đêm Cảnh Thạc lo luyện quân, tích lương, nuôi chí mưu đồ vương bá. Đại quân Hoa Lư do Đinh Bộ Lĩnh chỉ huy chia làm bốn mũi tấn công thành Đỗ Đồng. Thành bị hạ, tướng giữ thành chạy trốn. Hôm đó Cảnh Thạc đang ở Bảo Đà nên thoát chết. Mất thành, Cảnh Thạc thu thập dư chúng quyết tâm kéo về chiếm lại, thề sống mái với Bộ Lĩnh. Bộ Lĩnh bàn mưu cho Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lê Hoàn chia quân đến Bảo Hà khiêu chiến và đón Cảnh Thạc ở dọc đường. Theo kế hoạch của Bộ Lĩnh, gặp Cảnh Thạc các tướng sĩ giả thua chạy để nuôi lòng kiêu ngạo và chủ quan của hắn, tìm mọi cách dử về Đỗ Động, Cảnh Thạc mắc mưu. Đến nơi thấy cổng thành Đỗ Động đóng chặt, từ trong thành tên bắn ra như mưa. Ngọn cờ Vạn Thắng Vương bay phấp phới trên đỉnh cột càng làm cho Cảnh Thạc thêm phẫn uất. Cảnh Thạc thúc quân vây thành, cố đánh phá, quyết bắt sống Bộ Lĩnh. Bỗng nhiên có tiếng reo hò vang dậy từ tứ phía. Quân của Lê Hoàn, Nguyễn Bặc, Đinh Điền đã kéo về đánh mặt sau. Bộ Lĩnh liền tung quân dũng mãnh trong thành đánh ra. Bị kẹp vào giữa, Cảnh Thạc liều chết trà trộn vào đám loạn quân cùng vài người thân cận lọt được vòng vây, nhằm hướng Bắc chạy thoát. Toàn thắng, Bộ Lĩnh dẫn đại quân về Hoa Lư. Kinh đô Hoa Lư và nước Đại Cồ Việt Đánh dẹp được Cảnh Thạc, Đinh Bộ Lĩnh chấm dứt thời kỳ loạn lạc mười hai sứ quân kéo dài hơn hai mươi năm trời [32]. Đất nước trở lại thống nhất và thanh bình. Nhân dân vui mừng được an cư lạc nghiệp. Trong lúc khắp nơi tưng bừng vui hội thống nhất non sông, thì ở Hoa lư, Bộ Lĩnh lên ngôi vua. Bề tôi dâng tôn hiệu Đại Thắng Minh hoàng đế. Lên ngôi, nhà vua băn khoăn tìm đất định đô và đặt tên nước. Trong một tiệc rượu có đông đủ bộ tướng và mưu sĩ, Bộ Lĩnh nói với mọi người – Chọn đất định đô là việc hệ trọng. Ta vẫn có ý muốn chọn Đàm Gia nhưng Đàm Gia tuy bằng phẳng mà không lợi địa thế, còn Hoa Lư thì hiểm trở nhưng lại hẹp. Mọi người suy nghĩ, Lê Hoàn bàn nên đóng đô ở Hoa Lư [33]. – Hoa Lư tuy có hẹp nhưng hiểm trở. Từ Hoa Lư vươn tay ra mặt Bắc cũng gần. Mặt sau dựa lưng vào Hoan Ái vững chắc. Vả lại một khi giặc tràn sang, từ Hoa Lư ta có đủ thì giờ để trở tay đối phó. Bộ Lĩnh cho là phải, Ngô Chân Lưu, một nhà sư trước đây đã có dịp cùng Bộ Lĩnh hội kiến, hôm nay cũng có mặt ở đây, nhìn Lê Hoàn thầm phục viên võ tướng có tài mà lời nói cử chỉ lại giống như một văn quan. Khi bàn đến việc chọn tên nước, Bộ Lĩnh chỉ vào Ngô Chân Lưu – Nhà sư học rộng biết nhiều, hãy cho ta biết ý nhà ngươi ra sao? Ngô Chân Lưu đáp – Tâu Hoàng đế, cứ như kẻ bần tăng này, thì nước ta rộng, dân ta đông, tuy trước đây đã nhiều năm bị đô hộ dưới ách ngoại bang, nhưng cũng nhiều phen dân ta nổi dậy đánh đuổi chúng, giành lại độc lập. Hiện nay một dải non sông tươi đẹp vẫn hiên ngang còn đó, ta nên đặt tên nước là Đại Việt. Bộ Lĩnh nghe nói, gõ gươm xuống bàn cười – Nhà sư nói hợp ý ta! Họ có đất nước, có vua, có kinh đô của họ, ta cũng có nước, có kinh đô của ta, chịu thua kém gì ai. Rồi đây còn phải đặt niên hiệu riêng của ta nữa chứ [34]! Mọi người cười vang. Như chợt nhớ điều gì, nhà vua lại nói tiếp – Đại Việt đã là hay nhưng toàn chữ của nước người. Ta phải nói sao cho cả bàn dân thiên hạ hiểu và biết rằng nước ta to lớn. Ta đặt tên nước Đại Cồ Việt [35] có phải hay hơn không? Ai nấy cười vui sướng với tên nước Đại Cồ Việt, nghe gần gũi với mình hơn. Cho đến vò rượu cuối cùng dốc cạn, nhà vua và mọi người vẫn chưa hết cười nói rộn ràng chung quanh chuyện định đô ở Hoa Lư và đặt tên là nước Đại Cồ Việt. Mấy hôm sau, một ngày đẹp trời, nhà vua làm lễ lên ngôi hoàng đế [36]. Tại Hoa Lư giữa hai hàng gươm giáo tuốt trần, Đinh Tiên Hoàng ngồi trên chiếc kiệu long tiến về bệ rồng xây bằng đá ở ngoài trời. Tiếng chiêng trống hòa vào nhau vang rền. Ngọn cờ đại mang năm chữ “Đại Thắng Minh Hoàng đế” bay phần phật trên đỉnh cột. Cờ xí rợp trời. Tiếng trẻ em reo hò không lúc nào ngớt. Trừ trên bệ rồng, Đinh Tiên Hoàng bố cáo cho mọi người biết giặc giã đã yên, đất nước từ nay thống nhất. Nước Đại Cồ Việt ra đời và định đô ở Hoa Lư. Tiếng hò reo nổi lên như sấm. Đinh Tiên Hoàng đưa mắt nhìn mọi người. Chung quanh nhà vua quân dân sát vai nhau, tầng tầng lớp lớp. Đôi mắt nhà vua nhìn bao quát những người đã cùng vào sinh ra tử trong hơn hai mươi năm trời. Những con người ấy cũng thiết tha với đất nước, sẵn sàng bỏ mình vì ngày mai của Tổ quốc và gắn bó với nhà vua như cá với nước. Đôi mắt nhà vua bỗng dừng lại ở đám trẻ vác cờ lau chạy nháo nhác vòng ngoài. Hình ảnh thời niên thiếu của nhà vua ba mươi năm trước, nay hiện về trong đám trẻ nhỏ. Nhà vua bước xuống bệ rồng, dắt Lê Hoàn, rẽ đám đông, đi về phía lũ trẻ. Mọi người ngạc nhiên nhìn theo. Trẻ con sợ hãi chạy toán loạn. Nhà vua cười, vẫy tay gọi lũ trẻ. Thấy vậy, chúng chạy đến vây quanh nhà vua. Đinh Tiên Hoàng xoa đầu từng đứa và tiện tay thu mấy bông lau rồi cùng Lê Hoàn về chỗ cũ. Trên bệ rồng, một tay cầm hoa lau, một tay nắm chặt đốc gươm, cất tiếng sang sảng – Các người theo ta từ lúc bốn phương loạn lạc, đất nước còn bị chia xẻ. Nay bọn giặc cỏ làm tan nát đất nước đã bị quét sạch. Ta ra lệnh cho các ngươi mở tiệc để chào mừng nước Đại Cồ Việt to lớn của chúng ta. Nói đến đây, nhà vua chỉ tay về phía đàn trẻ nhỏ và quay lại ra lệnh cho Lê Hoàn – Lê tướng quân nhớ ban cho lũ trẻ kia trâu rượu và gạo nếp để chúng cùng hưởng vui. Vận nước sau này là ở trong tay lũ chúng. Ai nấy đều sung sướng. Riêng các cụ già và những người nhiều tuổi lại còn hiểu được sâu sắc hơn việc làm đó của nhà vua. Con người hôm nay lên ngôi, đang đứng oai nghiêm trước mặt họ, không phải là ai khác, chính là cậu bé họ Đinh năm xưa. Ba mươi năm trước đây, người ấy đã từng kết bạn với lũ trẻ chăn trâu và hàng ngày cờ lau tập trận ở vùng đồi núi châu Đại Hoàng này. Con người ấy đã dẫn họ và con cháu họ vác gươm đi chiến đấu hơn hai mươi năm ròng rã cho nền thống nhất của đất nước mến yêu. Con người ấy đã cùng họ dựng nên nước Đại Cồ Việt, làm rạng rỡ cho tổ tiên, cho nòi giống. Trong ngày vui toàn thắng, giữa kinh đô Hoa Lư còn ngổn ngang hào lũy, nhà vua cùng mọi người đều thấy tự hào và kiêu hãnh – niềm tự hào và kiêu hãnh cao đẹp của một dân tộc biết đoàn kết thành một khối vững mạnh để tồn tại. Từ kinh đô Hoa Lư – trái tim của nước Đại Cồ Việt, tỏa ra một nguồn vui phơi phới như những đỉnh núi đá nhấp nhô, sắc cạnh, vây bọc Hoa Lư, đang chọc trời vươn lên trong nắng đẹp. Câu chuyện Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân – Theo Nguyễn Anh Công lao của Đinh Bộ Lĩnh Đinh Bộ Lĩnh là vị hoàng đế sáng lập ra triều đại nhà Đinh và nước Đại Cồ Việt trong lịch sử Việt Nam. Đây là dấu mốc quan trọng, mở ra một chương mới cho lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Sinh ra giữa thời kỳ loạn lạc, đất nước chia năm xẻ bảy sau cái chết của Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh đã có công lao dẹp yên các thế lực cát cứ của mười hai sứ quân, thống nhất đất nước, tạo điều kiện cho đất nước bước vào thời kì ổn định lâu dài. Trong 12 năm làm vua, Đinh Bộ Lĩnh đã xây dựng được một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở nước ta, có đủ triêu nghi, phẩm phục, có quân đội hùng mạnh, pháp chế nghiêm minh. Điều này chính là cơ sở để cho Lê Hoàn đánh bại quân xâm lược nhà Tống năm 981, bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Ghi chú trong truyện Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân Hoan Châu tức Nghệ An ngày nay Động cũng như sách, bản, nguồn… ở miền ngược, giống như làng, xã, thôn… ở vùng xuôi. Nguyên văn trong Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của Viện Sử học. Năm 937. Ngô Quyền phá giặc Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938. Năm 930. Các sách sử của ta đều chép “Đinh Công Trứ chết, Bộ Lĩnh còn nhỏ” hay “vua còn nhỏ mồ côi cha”. Các sách sử còn cho hay Bộ Lĩnh mất vào năm Kỷ Mão 979 thọ 56 tuồi. Bên cạnh đó, sử còn cho ta biết thêm Đinh Công Trứ, cha Bộ Lĩnh giữ chức thứ sử Hoan Châu dưới thời Ngô Quyền 939 – 944. Như vậy Đinh Bộ Lĩnh sinh vào năm 923, và cho rằng Đinh Công Trứ mất vào năm đầu thời Ngô Quyền đi nữa 939, thì lúc đó Bộ Lĩnh cũng đã 16 tuổi. Năm 944. Thuộc huyện Gia Viễn, Ninh Bình bây giờ. Tức Gia Viễn, Ninh Bình. Theo Cương Mục, thuộc miền Quốc Oai Hà Tây, ở hữu ngạn sông Hát. Năm 951. Nguyên văn trong Việt sử lược, bản dịch của nhà XB Sử học. Cửa Bố hay Bố Hải Khẩu, thuộc xã Kỳ Bố, huyện Vũ Tiên, Thái Bình. Năm 954. Năm 965. Ở huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa, mấy chục năm trước đây vẫn còn di tích thành xưa Thuộc huyện Thanh Oai, Hà Nội ngày nay. Nay còn dấu vết thành cũ ở làng Phú Lâm, huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Phú. Huyện Cẩm Khê, Vĩnh Phú, hiện còn dấu thành xưa. Theo Cương mục, Nguyễn Gia Loan, là tên núi ở xã Vĩnh Mỗ huyện Yên Lạc, là trị sở của Nguyễn Khoan khi giữ vững Tam Đái. Nay là Tiên Du, Bắc Ninh. Thuộc Thanh Trì, Hà Nội. Nay là Thuận Thành, Bắc Ninh. Huyện Văn Giang, Hưng Yên, nay còn đền thờ Lữ Tá Công. Thuộc Hưng Yên ngày nay. Nay là huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Có tài liệu nói Ngô Nhật Khánh giữ miền Giao Thủy, này là Xuân Trường, Nam Định. Sách Việt sử thông giám cương mục , tiền biên, bản dịch của Viện Sử học, xuất bản năm 1957, cho hay ”Theo Ngũ đại sử năm Đại Bảo thứ 8 đời Lưu Xưởng, Xương Văn ở Giao Châu mất, người giúp việc là Lữ Xử Bình cùng với thứ sử Phong Châu là Kiều Tri Hựu tranh nhau lên làm vua. Đinh Liễn đem quân đi phá được. Lưu Xưởng cho Đinh Liễn làm tiết độ sứ Giao Châu”. Cũng có tài liệu nói Trần Lãm còn sống cho đến khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua. Ít lâu sau mới mất. Xã Tuyết Nghĩa, huyện Quốc Oai, Hà Nội còn dấu thành cũ của Cảnh Thạc, tục gọi là thành Quèn. Nay ở làng Bảo Hà, huyện Thanh Oai, Hà Nội còn dấu thành cũ. Kể từ khi Ngô Quyền mất 944 đến khi Bộ Lĩnh thống nhất được đất nước 968 gồm 24 năm. Bộ Lĩnh dấy binh ở động Hoa Lư, cách kinh đô Hoa Lư gần 20 km, về phía Tây Bắc. Ở kinh đô Hoa Lư, thuộc xã Trường Yên, huyện Gia Khánh, Ninh Bình hiện nay, còn khai quật được dấu vết thành lũy cũ. Năm Canh Ngọ 970 Đinh Tiên Hoàng đặt niên hiệu là Thái Bình. “Cồ” tiếng Việt cổ của ta có nghĩa là to lớn. Đinh Bộ Lĩnh làm vua được 12 năm. Sau khi thống nhất đất nước. Bộ Lĩnh xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên có đủ triều nghi, phẩm phục, có quân đội hùng mạnh, pháp chế nghiêm minh. Trên cơ sở nước Đại Cồ Việt thống nhất và vững mạnh ấy, năm 981 Lê Hoàn đã đánh bại quân xâm lược nhà Tống, bảo vệ được độc lập cho Tổ quốc. Năm 979, Đinh Bộ Lĩnh và con trai là Đinh Liễn bị Đỗ Thích giết chết trong một đêm hai cha con say rượu nằm ngủ ở cấm đình. Hiện nay mộ Đinh Bộ Lĩnh còn ở trên núi Mã Yên thuộc xã Trường Yên, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình. Dưới chân núi có đền thờ gọi là đền Đinh.
Những chi tiết về cuộc đời ấu thơ của Đinh Bộ Lĩnh là một ví dụ tiêu biểu cho việc đan xen giữa huyền thoại và lịch Việt sử ký toàn thư Toàn thư trước nay vẫn được coi là bộ chính sử quan trọng nhất đối với các nhà sử học, văn hóa học,… Tính chính sử của nó được coi như cái mác bảo hành cho những gì ghi chép bên trong. Song do tình trạng thiếu khuyết tư liệu trầm trọng, mà văn bản này đã sưu tập không ít những huyền thoại, thần tích trong dân gian. Điều đó có thể hiểu được trong bối cảnh “văn – sử – triết bất phân”, là nơi chủ thể văn hóa không quan tâm, hoặc không thể phân biệt được ranh giới giữa các lĩnh vực khoa học. Điều nguy hiểm là ở chỗ, trong suốt thế kỷ XX và cho đến tận ngày nay, tư duy huyền thoại ngày càng lấn át tư duy sử học trong đời sống người Việt. Chúng ta đánh đồng huyền thoại và lịch sử. Ở một số trường hợp cụ thể, chúng ta “làm sử” chỉ là kéo dài cách nghĩ của từ vài trăm năm trước. Nói cách khác đó là lối làm sử “hậu phong kiến”. Một ví dụ tiêu biểu cho việc đan xen giữa huyền thoại và lịch sử là chi tiết về cuộc đời ấu thơ của Đinh Bộ Lĩnh. Toàn thư ghi như sau Xưa, cha của vua là Đinh Công Trứ làm nha tướng của Dương Đình Nghệ, được Đình Nghệ giao giữ chức quyền Thứ sử châu Hoan, sau theo về với Ngô Vương, vẫn được giữ chức cũ, rồi mất. Vua mồ côi cha từ bé, mẹ họ Đàm đưa gia thuộc vào ở cạnh đền sơn thần trong động. Vào tuổi nhi đồng, vua thường cùng bọn trẻ con chăn trâu ngoài đồng. Bọn trẻ tự biết kiến thức không bằng vua, cùng nhau suy tôn làm trưởng. Phàm khi chơi đùa, thường bắt bọn chúng chéo tay làm kiệu khiêng và cầm hoa lau đi hai bên để rước như nghi trượng thiên tử. Ngày rỗi, thường kéo nhau đi đánh trẻ con thôn khác, đến đâu bọn trẻ đều sợ phục, hằng ngày rủ nhau đến phục dịch kiếm củi thổi cơm. Bà mẹ thấy vậy mừng lắm, mổ lợn nhà cho chúng ăn. Phụ lão các sách bảo nhau “Đứa bé này khí lượng như thế ắt làm nên sự nghiệp, bọn ta nếu không theo về, ngày sau hối thì đã muộn”. Bèn dẫn con em đến theo, rồi lập làm trưởng ở sách Đào Áo. Người chú của vua giữ sách Bông chống đánh với vua. Bấy giờ, vua còn ít tuổi, thế quân chưa mạnh, phải thua chạy. Khi qua cầu ở Đàm Gia Nương Loan, cầu gãy, vua rơi xuống bùn, người chú toan đâm, bỗng thấy hai con rồng vàng hộ vệ vua, nên sợ mà lui. Vua thu nhặt quân còn sót, quay lại đánh, người chú phải hàng. Từ đấy ai cũng sợ phục, phàm đi đánh đến đâu đều dễ như chẻ tre, gọi là Vạn Thắng Vương1. Đoạn trích trên lâu nay vẫn được coi như một sử liệu nguyên khối và khả tín. Chưa thấy nhà nghiên cứu nào tiến hành giám định sử liệu, hay cao hơn phê phán sử liệu cho trường hợp này. Trong thế kỷ XX, hình tượng chú bé mồ côi, chăn trâu không chỉ dừng lại ở sách sử mà nó đã được chuyển hóa vào đời sống của người Việt hiện đại. Người ta tiếp tục bồi đắp để xây dựng thành một huyền thoại “cờ lau dựng nước”. Những tác phẩm nghệ thuật xuất hiện trong nhiều năm qua khai thác chủ để này là những minh chứng cụ thể. Phải kể đến hai bức tranh dân gian Đông Hồ một bức là hoạt cảnh Đinh Bộ Lĩnh cưỡi trâu có hai trẻ cầm cờ lau hộ giá, một bức là cảnh Đinh Bộ Lĩnh được rồng che chở khi bị ông chú Đinh Dự truy sát. Chúng ta còn biết đến cuốn tiểu thuyết lịch sử “Cờ lau dựng nước” 2001 của nhà văn Ngô Văn Phú2, “Hoàng Đế cờ lau” 2010 của Nguyễn Khắc Triệu3, truyện tranh cho thiếu nhi “Đinh Bộ Lĩnh” 2000 trong bộ tranh truyện lịch sử Việt Nam4, truyện lịch sử “Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh” 2000 của Lữ Giang5, truyện tranh “Cờ lau tập trận” 1999 trong bộ “Truyện xưa đất Việt” 24 tập của Tạ Chí Đông Hải6… Để giám định tính khả tín của đoạn sử liệu trên, chúng ta ít nhất phải có những sử liệu độc lập soi chiếu. Chúng tôi muốn nhắc đến đoạn sau đây trong sách Tục tư trị thông giám trường biên của Lý Đảo 1115- 1184 ghi “Trước, Dương Đình Nghệ làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, sai Nha tướng Đinh Công Trứ nhiếp Hoan châu Thứ sử. Công Trứ chết, con Bộ Lĩnh nối chức ấy. Khi đó, Bộ Lĩnh cùng con là Liễn cùng thống soái ba vạn người đánh phá bọn Xử Bình, đất ấy mới yên, bèn tự lập làm Vạn Thắng Vương, lấy Liễn làm Tĩnh Hải tiết độ sứ.”7 Sách Văn hiến Thông khảo của sử gia Mã Đoan Lâm 1254 – 1324 đời Tống ghi “Trước, Dương Đình Nghệ lấy Nha tướng Đinh Công Trứ giữ chức Hoan châu Thứ sử, và Ngự phiên Đô đốc. Bộ Lĩnh con của Công Trứ vậy. Khi Công Trứ chết, Bộ Lĩnh nối các chức ấy. Đến đây, Bộ Lĩnh cùng con là Liễn đem binh đánh bại bọn Xử Bình, tặc đảng tan vỡ, cảnh nội đều yên, dân ơn đức ấy bèn suy Bộ Lĩnh làm Giao Châu soái, hiệu là Đại Thắng Vương.”8 Sách An Nam chí lược của Lê Trắc ghi “Cuối đời Ngũ Đại, Đình Nghệ đi trấn Giao Châu, lấy Công Trứ quyền Thứ sử Hoan Châu. Trước đây, Ngô Quyền giết Kiều Công Tiễn, cha con Bộ Lĩnh về với Ngô Quyền, Quyền nhân khiến Công Trứ về nhiệm chức cũ. Khi Công Trứ mất, Bộ Lĩnh kế tập chức cha.”9 Điều đáng chú ý là thời gian định bản của các sử liệu trên xuất hiện trước Toàn thư từ hai đến năm thế kỷ10. Nguyễn Danh Phiệt trong “Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước” đã chứng minh rằng không hề có chuyện Đinh Bộ Lĩnh mồ côi cha từ bé. Theo cách tính của Nguyễn Danh Phiệt, Đinh Công Trứ mất khi Đinh Bộ Lĩnh quãng từ 15 đến 20 tuổi11. Vậy, việc “nối cha giữ chức Thứ sử Hoan Châu và Ngự phiên Đô đốc” có thể sẽ xảy ra vào quãng năm 940 đến 944, khi Đinh Bộ Lĩnh từ 15 đến 20 tuổi. Keith Weller Taylor cũng dựa vào sử liệu nhà Tống mà đoán định rằng Đinh Bộ Lĩnh giữ chức Thứ sử Hoan – Ái vào thời Bình Vương Dương Tam Kha ở ngôi12. Trong khi Nguyễn Danh Phiệt phủ nhận việc Đinh Bộ Lĩnh nối chức cha bằng các truyền thuyết và sử liệu dân gian, thì chúng tôi cho rằng, quãng tuổi từ 15 – 20 là quãng tuổi hoàn toàn có thể nhậm chức trong thời xưa theo phép tập ấm. Những thông tin này rất quan trọng. Từ đây, có thể nhận định rằng 1 Đinh Bộ Lĩnh không phải trẻ mồ côi, mà chỉ mất cha quãng thời thanh niên. 2 Đinh Bộ Lĩnh là con của danh gia vọng tộc, con của quan chức cao cấp nhà Ngô. 3 Khi cha mất, ông có khả năng được tập ấm các chức Thứ sử Hoan Châu, Ngự phiên Đô đốc. Như nghiên cứu trước đây, chúng tôi đã lý giải rằng, Đinh Bộ Lĩnh đã bị mất chức mà phải trở về nguyên quán là động Hoa Lư có lẽ vì liên quan đến thế lực Dương Tam Kha. Trở về Hoa Lư, Đinh Bộ Lĩnh hẳn đã vấp phải những mâu thuẫn quyền lực trong nội bộ gia tộc mà câu chuyện hai chú cháu Đinh Dự – Đinh Bộ Lĩnh đánh lẫn nhau là một kiểu trầm tích lịch sử được hóa thạch trong truyền thuyết như Toàn thư đã ghi. Từ cái lõi lịch sử này, dân gian nhiều đời đã xây dựng nhiều huyền thoại khác nhau. Đại Việt sử ký tiền biên còn sưu tầm một huyền thoại ngộ nghĩnh hơn, rằng Đinh Dự muốn giết cháu bởi vì Đinh Bộ Lĩnh đã dám giết lợn nhà để khao đám trẻ chăn trâu14. Đến đây, nhìn lại những ghi chép trong Toàn thư, ta sẽ thấy các chuyện “mồ côi cha từ bé”, “cùng bọn trẻ chăn trâu ngoài đồng”, “cầm hoa lau đi hai bên để rước như nghi trượng thiên tử”, “hai con rồng vàng hộ vệ vua”… đều là những chuyện sáng tác của đời sau, ít nhất là vào thế kỷ XV- thời Lê sơ – sau thời của Đinh Bộ Lĩnh quãng 500 năm. Huyền thoại là những câu chuyện kể huyền hoặc hoang đường, là một thể loại của văn học dân gian, tức nó là một sản phẩm “hư cấu”. Trái lại, lịch sử là một sản phẩm “thực cấu” của quá trình thu thập thông tin, nhận thức, xử lý thông tin và tư duy sử học. Cái LỊCH SỬ TUYỆT ĐỐI là toàn bộ tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ, là cái đích mà nhà sử học muốn hướng đến. Nó là cái đích không tưởng, vì sẽ không bao giờ có thể tri nhận nó một cách tuyệt đối – toàn diện, mà chỉ có thể tiệm cận đến nó một phần nào đó. Tuyệt vọng trước cái bất khả toàn tri ấy, dân gian đã sáng tác ra các huyền thoại để lấp đầy những nhu cầu về sự hiểu biết. Tham vọng trước cái bất khả toàn tri ấy, nhà sử học buộc phải tiến hành các thao tác tư duy trên những mảnh vụn chắp vá của sử liệu. Nhưng trớ trêu thay, có những lịch sử đã trở thành huyền thoại, và cũng có những huyền thoại chưa bao giờ là lịch sử! —————— 1 Chính Hòa thứ mười tám 1697. Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Bản khắc in. Bản dịch. 1998. Tập 1. Ngô Đức Thọ dịch chú, Hà Văn Tấn hiệu đính. NXB Khoa học Xã hội. Hà Nội. 2 Ngô Văn Phú. 2001. Cờ lau dựng nước. NXB Kim Đồng. Hà Nội. 3 Nguyễn Khắc Triệu. 2010. Hoàng đế cờ lau. NXB Văn học. Hà Nội. 4 2000. Đinh Bộ Lĩnh. Tranh Tạ Huy Long. Lời Kim Đồng soạn theo “Đại Việt sử ký toàn thư”. NXB Kim Đồng. Hà Nội. 5 Lữ Giang. 2000. Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh. Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh. Tp. HCM. 6 Tạ Chí Đông Hải. 1999. Cờ lau tập trận. NXB Giáo dục. Hà Nội. 7 Nguyên văn “始楊庭藝為静海節度使遣牙將丁公著攝驩州刺史公著死子部領繼之於是部領與其子璉同帥兵三萬人擊破處玶等境内以安遂自立為萬勝王以璉為静海節度使” [Tống Lý Đảo. Tục tư trị thông giám trường biên. Đài Loan thương vụ. Đài Bắc Thị. Dân quốc 72. 8 Nguyên văn “先是楊廷藝以牙將丁公著攝驩州刺史兼禦蕃都督部領即其子也公著死部領繼之至是部領與其子璉率兵擊敗處玶等賊黨潰散境内安堵部民德之乃推部領為交州帥號曰大勝王” [Nguyên Mã Đoan Lâm. Văn hiến thông khảo. Đài Loan thương vụ. Đài Bắc thị. Dân quốc 72. Xem thêm Nguyên Thoát Thoát soạn, Dương Gia Lạc chủ biên. Tống sử. “Trung Quốc học thuật loại biên”. Đỉnh Văn thư cục. Đỉnh Văn Thư cục. Đài Bắc thị. Dân Quốc 69 1980. Phần Liệt truyện. 9 Lê Trắc. 1335. An Nam chí lược. Mạnh Nghị Trần Kinh Hòa dịch 1960, tb 2002. NXB Thuận Hóa- Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây. Huế. 10 Sử liệu này được biên soạn trong nhiều thế kỷ, vết tích sớm và chắc chắn nhất là từ thế kỷ XV tới văn bản cuối là vào năm 1697. 11 Nguyễn Danh Phiệt. 1990. Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước. NXB KHXH. H. 12 K. Taylor. 1983. The Birth of Vietnam. University of California Press. 13 Ngô Thì Sĩ soạn, Ngô Thì Nhậm tu đính. 1800 khắc in. Đại Việt sử ký tiền biên. Bắc Thành học đường tàng bản. Ký hiệu A2/2-7. Lê Văn Bảy, Dương Thị The, Nguyễn Thị Thảo, Phạm Thị Thoa dịch, Lê Duy Chưởng hiệu đính. NXB
1. Chân mệnh đế vương từ thuở lọt lòng2. Được Rồng-Thần bảo hộ từ tấm bé 3. Dẹp loạn 12 sứ quân và những lần báo mộng về thiên mệnh với thế gian4. Xưng đế, lập kinh đô Hoa Lư, thuận theo Thiên Ý5. Sấm truyền về số mệnh 12 năm tại vị của Đinh Tiên Hoàng và sự chuyển tiếp triều Lê6. Câu sấm động nhân gian Mưu sự tại nhân, hành sự tại Thiên Cõi nhân sinh như mộng thoảng, quá khứ đẹp đẽ tráng lệ thuở nào. Người xưa quay trở về, nhìn lại đã nghìn năm trôi qua… Kinh thành đất Việt ngày xưa ấy, núi rừng trùng điệp, non nước đẹp như thơ, hai vị hoàng đế nhà Đinh-Lê trong những chiếc áo bào uy nghi lộng lẫy ra trận, hoàng hậu ghim cài gương soi, những vị quan văn quan võ chính trực thành tín, công chúa thanh tao hiền thục, những thiên tình sử triều đình bi thương mà khí phách, những trung thần oai hùng tuẫn tiết theo vua, họ trở về như bức tranh đối lập với con người hiện đại vội vã mệt mỏi trong guồng quay bận rộn của cuộc sống và những lo toan cá nhân dường như bất tận… Lòng bỗng chùng xuống, dịu lại, êm ả bước vào bức tranh cổ tích… Là con người hiện đại của thời nay, trong cuộc sống hối hả này, khi dừng lại trong một khoảng tĩnh lặng, chợt thấy rằng những vẻ đẹp Trung – Hiếu – Nghĩa ấy là vẻ đẹp lẫm liệt và vĩnh cửu. Mời quý độc giả lên xe bước vào hành trình ngược về quá khứ, tìm lại năm tháng huy hoàng thuở nào… Kinh thành đất Việt ngày xưa ấy, núi rừng trùng điệp, non nước đẹp như thơ Đinh Bộ Lĩnh Chân mệnh đế vương, thống nhất giang sơn, xưng đế dựng lập kinh đô Hoa Lư nước Đại Cồ Việt – vùng đất “địa linh nhân kiệt”, “sơn thanh thủy tú” Triều Đinh Lê thế kỷ 10 gắn với giai đoạn lịch sử đặc biệt của Việt Nam, giai đoạn của kỷ nguyên độc lập, tự chủ và phục hưng dân tộc sau 1000 năm Bắc thuộc. Thành tựu của thế kỷ này là sự thành lập và củng cố chính quyền độc lập từ nền móng ban đầu của chính quyền họ Khúc, họ Dương đến vương triều Ngô, Đinh, tiền Lê; trong đó nhân vật lịch sử Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn đã ghi dấu những mốc son chói lọi. Đinh Bộ Lĩnh, sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn, trở thành vị Hoàng đế khai sáng đầu tiên của nước Đại Cồ Việt độc lập sau một ngàn năm phương Bắc đô hộ. 1. Chân mệnh đế vương từ thuở lọt lòng Đinh Bộ Lĩnh là con của ông Đinh Công Trứ, quê ở làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng tức thôn Văn Bòng, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình ngày nay; và bà Đàm Thị. Ông Đinh Công Trứ vào Châu Ái Thanh Hóa ngày nay tham gia cuộc khởi nghĩa của Dương Đình Nghệ, được phong làm thứ sử Châu Hoan nay là Nghệ An. Đến thời Ngô Quyền con rể của Dương Đình Nghệ, ông Đinh Công Trứ vẫn được làm thứ sử Châu Hoan. Sách sử chép lại rằng, Đinh Bộ Lĩnh sinh ra trong khoảnh khắc “Hôm ấy trời đang nắng chang chang, bỗng sấm chớp nổi lên ầm ầm, mây đen vần vũ”. Khi bà Đàm Thị khai hoa nở nhụy, những nguời vào động lễ sơn thần thấy trên các cây sen núi, lá nào cũng có vệt sên bò thành chữ “Thiên tử” con của Trời. Sau khi ông Đinh Công Trứ mất, bà Đàm Thị đưa Đinh Bộ Lĩnh về quê ở động Hoa Lư, sống nương nhờ vào người chú của Đinh Bộ Lĩnh là Đinh Thúc Dự. Từ nhỏ, Đinh Bộ Lĩnh đã có biệt tài về bơi lội. Dòng sông chảy qua làng rất lớn, rất sâu và xiết, chỉ có Đinh Bộ Lĩnh mới bơi ra được giữa dòng, lặn sâu xuống bắt được cá. Ai muốn ba ba to chừng nào chỉ cần lấy tay vẽ lên cát, đứng chờ một lát Lĩnh sẽ bắt lên đúng như hình vẽ này. Chính tài lạ này khiến cho dân làng càng tin Lĩnh là con của Thần, bởi vì người thường thì làm sao có thể bơi lặn giỏi như thế. Không chỉ có tài về bơi lặn, Đinh Bộ Lĩnh còn là một tài năng quân sự ngay từ thuở chăn trâu cắt cỏ. Dưới bóng cờ lau, ông và các bạn thân cùng trang lứa ở Sách Bông như Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ đã thao tập, luyện rèn, tập đánh trận giả. Thấy Đinh Bộ Lĩnh có nhiều tài lạ, các “huynh đệ” chăn trâu tôn làm “vua”, khoanh tay giả làm ngai vàng để rước theo lễ, lấy hoa lau làm cờ cho quân mang phía trước và có các “quan” đi rước ở hai bên, giống như nghi thức rước thiên tử của triều đình. Đội quân trẻ trâu của Đinh Bộ Lĩnh thường “chiến đấu” với đám trẻ trâu ở những làng khác, tiến thoái có quy củ và đánh đâu… thắng đó làm cho “quân địch” vừa sợ vừa phục, khiến Đinh Bộ Lĩnh được tôn vinh “Vạn Thắng Vương”. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép Vua mồ côi cha từ bé, mẹ họ Đàm đưa gia thuộc vào ở cạnh đền sơn thần trong động. Vào tuổi nhi đồng, vua thường cùng bọn trẻ con chăn trâu ngoài đồng. Bọn trẻ tự hiểu kiến thức không bằng vua, cùng nhau suy tôn ông làm trưởng. Phàm khi chơi đùa, thường bắt bọn chúng chéo tay làm kiệu khiêng và cầm hoa lau đi hai bên để rước như nghi trượng thiên tử. Ngày rỗi, thường kéo nhau đi đánh trẻ con thôn khác, đến đâu bọn trẻ đều sợ phục, hàng ngày rủ nhau đến phục dịch kiếm củi, thổi cơm. Bà mẹ thấy vậy mừng lắm, mổ lợn nhà cho bọn chúng ăn. Phụ lão các sách bảo nhau “Đứa bé này khí lượng như thế ắt làm nên sự nghiệp, Chúng ta nếu không theo về, ngày sau hối thì đã muộn”. Cờ lau tập trận ở Thung LauMưu lược tài cao thưở ban đầuLũ trẻ công kênh làm minh chúaAi biết làm vua kẻ chăn trâu Hoa Lư địa lợi với nhân hòaHai đường thủy bộ dễ vào raNúi non trùng điệp thành chiến lũySứ quân yên loạn cõi sơn hà Lên ngôi đế hiệu Đinh Tiên HoàngĐất nước an hòa cả giang sanSánh ngang Hoàng đế vua đất BắcChủ quyền dân tộc được an bang. Vua Đinh Tiên Hoàng 2. Được Rồng-Thần bảo hộ từ tấm bé Khi nhắc đến cuộc đời của Đinh Bộ Lĩnh, người ta thường không thể không nhắc đến hình ảnh rồng vàng. Những gì người dân chứng kiến được ghi chép lại và truyền sang các đời sau. Lâu dần người đời gọi đó là truyền thuyết. Sự tích có ghi lại, thuở còn chơi trò cờ lau tập trận, sau khi được khiêng kiệu, Đinh Bộ Lĩnh đã dám giết trâu của chú để khao quân. Bị chú cầm gươm lăm lăm đuổi, những tưởng là ông không thoát khỏi cái chết. Thế nhưng ngay sau lời gọi “Rồng ơi rồng, chở ta qua sông, cứu ta với” thì một con rồng vàng lớn hiện ra, hụp đầu ba lạy như vái, như chào mời rồi ghé sát lưng đón Bộ Lĩnh qua sông. Người chú đang vung gươm thấy vậy sợ hãi, biết cháu mình có chân mệnh đế vương, nên vội quỳ lạy và cắm gươm xuống. Hiện nay còn lưu lại dấu tích núi Cắm Gươm còn gọi là núi Vân Sơn. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép lại sự kiện này như sau “Người chú toan đâm, bỗng thấy hai con rồng vàng hoàng long hộ vệ vua” Vân Sơn bao bọc đền Đinh LêPhù điêu thủy mạc đón người vềTrông xa núi báu gươm còn đóHoàng Long uốn lượn giữa Sào KhêVân Sơn Rồng vàng không chỉ giúp Bộ Lĩnh thoát khỏi lửa hận của ông chú mà còn chỉ ra những bước đầu tiên để tạo dựng được cơ đồ đế vương “Trời còn thử thách đại vương dăm ba năm nữa. Cuộc đời, sự nghiệp của đại vương phải trải qua một vòng tròn khép kín từ rừng ra bể rồi lại về rừng” Đinh Bộ Lĩnh cưỡi rồng về Cửa Bố. Ở nơi Hoa Lư, con sông mà Đinh Bộ Lĩnh được rồng vàng hộ mệnh chở bay qua có tên Hoàng Long, còn núi Bái Đính như một con long mã tung bờm lao về phía Bắc ở thế thượng phong Hoa Lư kinh thành của đế vươngMây bay phủ núi lũy biên cươngHoàng Long dậy sóng ngàn năm ngủLong mã truy phong thượng đạo cường Thiên tôn sư tử phục hướng đôngVăng vẳng trời nam sáo mục đồngCờ lau thuở ấy còn soi bóngRồng vàng lượn sóng giữa thinh không Thành cổ 3. Dẹp loạn 12 sứ quân và những lần báo mộng về thiên mệnh với thế gian Loạn 12 sứ quân sứ quân có nghĩa là “Vua cai trị” là một giai đoạn loạn lạc của lịch sử Việt Nam, xen giữa nhà Ngô và nhà Đinh. Giai đoạn này phát triển mạnh từ khi Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, các nơi không chịu thuần phục, các thủ lĩnh nổi lên cát cứ một vùng và đem quân đánh chiếm lẫn nhau. Loạn 12 sứ quân kéo dài hơn 20 năm 944-968 và kết thúc khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt – nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi về sự kiện này “Nam Tấn Vương mất, các hùng trưởng đua nhau nổi dậy chiếm cứ quận ấp để tự giữ.” Nhà sử học Ngô Sĩ Liên nhận xét Vận trời đất, bĩ rồi ắt thái, Bắc Nam đều cùng một lẽ ấy. Thời Ngũ đại bên Bắc triều Trung Quốc suy loạn rồi Tống Thái Tổ nổi lên. Ở Nam triều nước ta, 12 sứ quân phân chia quấy nhiễu, rồi Đinh Tiên Hoàng nổi lên. Không phải là ngẫu nhiên mà do vận trời vậy. Sách Việt Giám Thông Khảo tổng luận ca ngợi “Vua bình được 12 sứ quân, trời cho người theo, thống nhất bờ cõi,… sáng chế triều nghi, định lập quân đội, vua chính thống của nước Việt ta, thực bắt đầu từ đấy, kể về mặt dẹp giặc phá địch thì công to lắm.” Từ “căn cứ địa Hoa Lư” này, với “tài năng, thông minh hơn người, dũng lược nhất đời” theo mô tả của Đại Việt sử ký toàn thư, Đinh Bộ Lĩnh lần lượt khéo léo dùng mưu lược, kế sách để thu phục, hàng phục hoặc xuất quân tấn công tiêu diệt, dẹp xong “loạn sứ quân” vào năm 967. Các giấc mộng báo về thiên mệnh thống nhất giang sơn của ông xuất hiện không chỉ một lần, như mộng báo cho sứ quân Trần Minh Công biết sự xuất hiện của nhân vật tài năng là Đinh Bộ Lĩnh, báo cho sứ quân Phạm Bạch Hổ biết nên quy thuận vua Đinh vì Đinh Bộ Lĩnh chính là tướng tài đã được trao thiên mệnh. Hoặc có khi đó lại là những giấc mộng báo các vị tướng tài sẽ trợ giúp cho Đinh Bộ Lĩnh lập nên nghiệp lớn như Ba vị tướng tài ở Thạch Khê, ba vị tướng quân ở Lộng Đình – Kinh Bắc… Dũng lược tài ba khắp thiên hạSứ quân lần lượt quy phục hàngĐế nghiệp từ đây soi bóng cảBộ Lĩnh cờ lau Đinh Tiên HoàngQuân thành 4. Xưng đế, lập kinh đô Hoa Lư, thuận theo Thiên Ý Trước khi đi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh vào động Thiên lập Kính Thiên Đài cầu thắng giặc Thiên Tôn nằm chân núi Dũng ĐươngTrấn vũ Hoa Lư đại điện đườngVua Đinh ứng nghiệm lời cầu nguyệnTiền tế Kính Thiên đài dâng hương Oai nghiêm thần đứng tại Long ĐìnhRồng chầu một cặp tỏa khí linhNgàn năm trấn giữ đất anh kiệtTrời Nam một dải đất thanh bình. Chùa Thiên Tôn Cố đô Hoa Lư – ngàn năm trấn giữ đất anh kiệt – Trời Nam một dải đất thanh bình. Năm 968, sau khi bình định 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, xưng là “Đại Thắng Minh hoàng đế” chọn Hoa Lư làm kinh đô, cho xây cung điện, sắp đặt trăm quan, chế triều nghi, đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Hoa Lư trở thành kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền của Việt Nam. Nơi đây gắn liền với ba triều đại Đinh, Tiền Lê và khởi đầu nhà Lý – tính từ vua Đinh Tiên Hoàng Đinh Bộ Lĩnh đến thời vua Lý Thái Tông. Hai năm sau khi tôn xưng “Hoàng Đế”, Đinh Tiên Hoàng bỏ niên hiệu của các hoàng đế phong kiến phương Bắc, tự đặt niên hiệu riêng là “Thái Bình” và cho đúc đồng tiền đầu tiên có tên “Thái Bình hưng bảo”. Như vậy, tuy chỉ là vị “đế” thứ ba sau Lý Nam Đế và Mai Hắc Đế song Đinh Tiên Hoàng lại là người đầu tiên xưng “Hoàng Đế” xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên của nước ta được triều đình phương Bắc công nhận. Trong bộ quốc sử uy tín “Đại Việt sử ký toàn thư”, nhà sử học Lê Văn Hưu cũng viết về “thiên ý” này Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ quân phục hết. Vua mở nước dựng đô, đổi xưng hoàng đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ, có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà lại sinh bậc thánh triết để tiếp nối quốc thống. 5. Sấm truyền về số mệnh 12 năm tại vị của Đinh Tiên Hoàng và sự chuyển tiếp triều Lê Đinh Tiên Hoàng ở ngôi 12 năm từ đầu năm 968 đến cuối năm 979, đến tháng 10 năm Kỷ Mão 979 bị kẻ bề tôi phản nghịch là Đỗ Thích thích sát, thọ 55 tuổi, con trai ông là Đinh Liễn cũng bị hại cùng vua cha. Theo sách sử chép lại, Đỗ Thích giết vua là để cướp ngôi. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” cho biết như sau “Trước đó Đỗ Thích làm chức lại ở Đồng Quan, đêm nằm trên cầu, bỗng thấy sao sa rơi vào miệng, Thích cho là điềm tốt, bèn nảy ra ý định giết vua. Đến đây, nhân lúc vua ăn yến ban đêm, say rượu nằm trong sân, Thích bèn giết chết.” Theo ghi chép sử sách thì số mệnh Hoàng đế đã được dự báo trước nhiều lần Viên ngọc khuyết góc sáng dưới đáy sông và lời tiên tri của nhà sư trụ trì chùa Giao Thủy. Trong Đại Việt sử ký tiền biên chép “Khi vua còn hàn vi, thường đánh cá ở sông Giao Thủy, kéo lưới được viên ngọc khuê to nhưng va vào mũi thuyền, sứt mất một góc. Đêm ấy vào ngủ nhờ ở chùa Giao Thuỷ, giấu ngọc ở dưới đáy giỏ cá, đợi sáng ra chợ bán cá. Bấy giờ vua đang ngủ say, trong giỏ có ánh sáng lạ, nhà sư chùa ấy gọi dậy hỏi duyên cớ, vua nói thực và lấy ngọc khuê cho xem. Sư than rằng “Anh ngày sau phú quý không thể nói hết, chỉ tiếc phúc không được dài.” Duyên gặp gỡ giữa Đinh Bộ Lĩnh với sư trụ trì chùa Giao Thuỷ chùa Cổ Lễ, Nam Định nay được Thiên Nam ngữ lục khái lược rõ hơn. Theo đó, khi Đinh Bộ Lĩnh ngược xuôi theo sông đánh cá mưu sinh, bởi có duyên tiền định nên được biết tới ánh hào quang phát dưới sông đã mười hai năm. Sau này, như có mệnh báo trước, nghiệp đế của ông cũng kéo dài 12 năm thì dứt chốn hồng trần. Mệnh trời đã định nẻo xưa,Ngọc khuê dành để đợi chờ đế vương. Thường thường có khí hào quang,Đêm đêm sáng dậy bên giang trùng trùng. Bộ Lĩnh hỏi chúng ngư ông, “Ấy gì mà sáng dưới sông đấy rầy?” Chúng ngư bèn bảo rằng bâySáng ở sông này đã mười hai năm. 12 năm ngọc nằm dưới đáy sông không ai biết mà lấy được. Vậy mà đến Đinh Bộ Lĩnh, ông tìm được viên ngọc quý ấy. Như Việt sử diễn âm đời Mạc viết Được một báu vàng đem lên,Đánh phải đầu thuyền khuyết một góc đi. Chính vì ngọc quý “khuyết một góc” đã trở thành điềm trời định dành cho hậu vận của vị vua tương lai. Sư trụ trì của chùa vốn trước kia làm đạo sĩ tinh thông tướng số, biết nhìn người. Đêm ấy, viên ngọc quý nằm trong giỏ cá “Bỗng sao sáng khắp hòa chiền”. Câu chuyện về viên ngọc mỗi lúc lại một tỏ Sáng ngày thầy hỏi trước sau,Ngọc khuê nghĩ mới đem hầu thầy đi nhìn lại một thôi,Giờ lâu thầy mới mở lời nói ra.“Con ta phúc đức thay là,Ngày sau làm chúa quốc gia trị hiềm phúc hậu chẳng dài,Vắn dài có số tượng trời đã chia. 6. Câu sấm động nhân gian Mưu sự tại nhân, hành sự tại Thiên Lên ngôi cao trong thiên hạ, đến năm Giáp Tuất 974 đời vua Đinh Tiên Hoàng, tức là 5 năm trước khi xảy ra vụ mưu sát của kẻ phản nghịch, trong dân gian đã có xuất hiện bài sấm, báo trước việc có một người tên Đỗ Thích sau này sẽ sát hại vua và sự nối ngôi của triều Lê Đỗ Thích thí Đinh Đinh,Lê gia xuất thánh minh,Cạnh đầu đa hoành nhi,Đạo lộ tuyệt nhân hành,Thập nhị xưng đại vương,Thập ác vô nhất liệt,Thập bát tử đăng tiên,Kế đô nhập nhị thiên. Dù câu sấm được cho là xuất hiện ngay trong thời trị vì của Đinh Tiên Hoàng, lại chỉ rõ cả tên kẻ phản nghịch là Đỗ Thích, dù hậu vận đã được dự báo từ thuở hàn vi, nhưng vua Đinh vẫn không có biện pháp gì để phòng ngừa. Điều đó có lẽ để cho hậu thế hiểu rằng, số trời đã định ắt khó tránh. Tháng 11 năm Kỷ Mão 979, đêm ấy vua Đinh Tiên Hoàng ngự tiệc ở điện với quần thần, uống rượu say, nằm ngủ luôn tại bậc thềm của sân điện. Phúc Hầu Hoằng là Đỗ Thích đã có dã tâm từ trước, ra tay giết vua và giết luôn cả Nam Việt Vương Đinh Liễn. *** Các bài thơ được sử dụng trong bài viết được trích dẫn từ tập thơ Hoa Lư Thi Tập, tác giả Hoàng Quang Thuận. “Tìm lại huy hoàng” là loạt bài nhiều kỳ do chuyên mục Văn Hóa thời báo Đại Kỷ Nguyên biên soạn, nhằm khôi phục dấu ấn nền văn hóa truyền thống đất Việt qua những câu chuyện lịch sử mang màu sắc“huyền sử”, hy vọng đem tới cho độc giả một cái nhìn mới về những nhân vật lịch sử và văn hóa truyền thống nước nhà. Hà Phương Linh
câu chuyện về đinh bộ lĩnh